Thép không gỉ Ferrite họ 409 và vai trò của Ti, Nb

Ferrite

 

Trong vài chục năm gần đây, thép không gỉ ferrite cho thấy sự tăng trưởng sản xuất ổn định, do chúng được sử dụng hầu hết cho hệ thống khí xả của Ôtô. Nhóm thép 409, và thép không gỉ ferrite nói chung, cho thấy có nhiều phẩm chất hấp dẫn khi so sánh với thép không gỉ Austenite. Về giá thành, thép không gỉ ferrite có giá thấp hơn nhờ sử dụng hàm lượng nguyên tố hợp kim thấp hơn.

Thép không gỉ Austenite cần có hàm lượng cao hơn về các nguyên tố hợp kim để hóa bền pha Austenite như Ni, Mn & Mo, đây là những nguyên tố đẩy giá thành lên cao. Thép không gỉ ferrite có tính chống chịu ăn mòn tốt trong hầu hết các điều kiện, chỉ có điều rằng lượng Cr phải nằm trong dung dịch (solution) nền. Trong khi thép không gỉ Austenite thường chứa 17-18%Cr hoặc cao hơn, thép không gỉ Ferrite 409 chỉ yêu cầu hàm lượng Cr tối thiểu cho tính chống ăn mòn là 11%. Hàm lượng Cr thấp hơn có nghĩa là toàn bộ hàm lượng Cr sẽ phải được giữ trong dung dịch hoặc là sẽ xuất hiện ăn mòn. Khi ở trạng thái không ổn định, thép không gỉ 409 rất nhạy với ăn mòn tinh giới (intergrnular corrosion) ở các vùng chịu ảnh hưởng nhiệt trước đây tại các điểm hàn kết nối. Các kết quả nghiên cứu cho thấy, bằng việc bổ sung 1 lượng Ti và/hoặc Nb có thể ngăn chặn sự tạo thành Cacbit Cr và giữ Cr ổn định trong dung dịch. Tuy nhiên, các nguyên tố bổ sung này cũng có ảnh hưởng đến tính chất cơ học của cả tính tan và cả sự tiết pha.

 
Thép không gỉ được chia làm 5 nhóm chính dựa vào vi cấu trúc: Ferrite, Austenite, xong pha (duplex), Martenistehóa bền tiết pha.
 
Bài viết này sẽ tập trung vào họ thép không gỉ Ferritemác 409
 
Đặc trưng chung của họ mác thép không gỉ Ferrit 409
Có rất nhiều đặc trưng về thép không gỉ Ferrite, trong đó các tính chất quan trọng cần được chú trong quá trình lựa chọn, xử lý và khả năng phục vụ của thép. Mác 409 là thép ferrite cơ bản nhất, có chứa 11% Cr và nguyên tố ổn định hóa. 11% là trị số hàm lựong tối thiểu của Cr về bảo vệ ăn mòn và hơn nữa là ổn định trường pha Ferrite BCC. Cấu trúc khác nhau giữa thép không gỉ FA dẫn đến sự khác nhau về tính chất cơ học. Giới hạn chảy tại nhiệt độ thường về cơ bản có thể sánh với hợp kim A. Tuy vậy, thép không gỉ A có tốc độ hóa bền rèn cao hơn và có độ bền kéo cao hơn. Tốc độ hóa bền rèn cao hơn của thép không gỉ A cũng dẫn đến khả năng dãn mạng tốt hơn so với thép không gỉ F. Thép không gỉ F có khả năng dập sâu tốt hơn do mặt textua {111} chiếm ưu thế vốn có của vi cấu trúc BBC, nhờ đó chúng rất thích hợp với các chi tiết xả của Ôtô. Một đặc trưng khác nữa của thép không gỉ F là sự xuất hiện nhiệt độ chuyển tiếp dẻo-dòn (DBTT), sẽ dẫn đến phá hủy dòn một cách mau chóng. Sử dụng thép không gỉ F trong các ứng dụng khác sẽ phụ thuộc vào sự gia tăng khả năng biến dạng và giảm bớt nhiệt độ chuyển tiếp dẻo-dòn.
Khả năng biến dạng của thép không gỉ F có thể được cải thiện theo nhiều cách. Một phương pháp là tăng tổng lượng thành tố textua {111} trong thép. Hình 1 cho thấy ảnh hưởng của textua {111} đến tỉ số biến dạng dẻo trung bình, r-bar, và do đó tăng khả năng dập sâu, của thép AKQD. Tỉ số biến dạng trung bình được định nghĩa là (ro+2r45+r90)/4, trong đó r là tham số Lankford, được định nghĩa bởi Lankford và các cộng sự trong những năm 1950. Tham số Lankford là giá trị đo của dị hứong pháp tuyến của vật liệu tấm, được đo là tỉ số biến dạng ngang với biến dạng chiều dày tấm. Thành tố textua {111} đối với thép không gỉ F cao hơn thép không gỉ A nhờ cấu trúc lập phương tâm khối, nhưng nó có thể được tăng cường qua quá trình cán nóng. Một cách khác để tăng khả năng biến dạng là giảm hàm lựong chất xen kẽ N và C. Hàm lượng C thấp hơn sẽ gia tăng khả năng biến dạng của thép do gia tăng giá trị r trung bình (xem hình 2).

Inox

Hình 1: Ảnh hưởng của thành phần textua {111} đến hệ số r. Khi cường dộ tuơng đối của thành tố {111} tăng thì tỉ số biến dạng trung bình cũng tăng
Inox

Hình 2: Ảnh hưởng của C đến tỷ số biến dạng trung bình

 

Khử bớt hàm lượng C cho thấy làm tăng tính hàn của thép F-P, được biểu thị ở giản đồ Graville (hình 3). Làm giảm hàm lượng C cũng làm giảm nhiệt độ chuyển pha dẻo – dòn (hình 4). Có thể giảm nhiệt độ DBTT bằng cách giảm kích thước hạt tinh thể trong thép, và cũng làm tăng độ bền, dẻo và biến dạng.
Inox

Hình 3:Giản đồ hàn Graville
Inox

Hình 4: Ảnh hưởng của C đến DBTT

Có nhiều cơ chế biến dòn xuất hiện trong thép không gỉ F cần phải được kể đến trong quá trình xử lý và sử dụng. Thép không gỉ F nhạy với ăn mòn tinh giới (intergranular corrosion). Nhạy ăn mòn tinh giới xảy ra khi một phần Cr từ dung dịch rắn phản ứng với C tạo thành dạng cacbit Cr. Hơn nữa, do thép chỉ có hàm lượng Cr tối thiểu cần thiết để tạo sự thụ động, điều này sẽ làm giảm hàm lượng Cr ở biên hạt dẫn đến bị ăn mòn tinh giới. Vì lý do đó, Ti và/hay Nb được bổ sung vào thép để ngăn cản sự tạo thành Cacbit Cr ở những vùng có sẵn C. Một cơ chế hóa dòn quan trọng khác nữa là hóa dòn tại nhiệt độ 475C và hóa dòn pha sigma.
 
Sử dụng của thép không gỉ F
Thép không gỉ F được sử dụng chủ yếu trong các hệ thống xả Ôtô là sự thỏa hiệp giữa thép C thấp rẻ và thép F hợp kim hóa cao hoặc thép không gỉ A có giá thành cao hơn. Các hợp kim F có khả năng chống chịu ăn mòn tốt hơn và do đó có thời gian phục vụ dài hơn thép C thấp và có giá thành thấp hơn các thép không gỉ hợp kim hóa cao hơn. Khả năng chống chịu ăn mòn của thép C phủ Al, thép không gỉ họ mác 409 và thép không gỉ F Cr cao (17%Cr-1Mo) họ 436 trong môi trường cô đặc tổng hợp chứa C hoạt tính, được biểu thị ở hình 5. Rõ ràng là khi giá thành tăng cao, khả năng chống chịu ăn mòn tăng. hệ thống thép không gỉ cho thiết bị xả được cấu thành từ một đầu nóng và 1 đầu nguội, hình 6. Như hình vẽ cho thấy, hầu hết các chi tiết được chế tạo từ các mác thép không gỉ F 11%Cr khác nhau, ngoại trừ đối với các chi tiết tại các vùng chịu nhiều ảnh hưởng của nhiệt và ăn mòn

Inox

Hình 5: Tốc độ ăn mòn của thép C phủ Al, thép không gỉ 409 và thép không gỉ Cr cao họ 416
Inox

Hình 6: Thép được sử dụng trong hệ thống xả Ôtô điển hình

Ổn định hóa

Để chống lại vấn đề nhạy cảm hóa (sensitization), C trong thép không gỉ F phải được khử qua cách tổ hợp thực tế luyện thép và và bổ sung nguyên tố có ái lực hóa học mạnh với C và N. Trước tiên, các thép này được xử lý trước bằng phương pháp AOD hay VOD để giảm hàm lượng C xuống rất thấp (<0.02%). C và N trong dung dịch sau đó sẽ được khử tiếp bằng bổ sung các nguyên tố Ti và/hoặc Nb. 
Ti và Nb tạo dạng Cacbonitride mà sẽ tiết pha tại nhiệt độ cao hơn và với thời gian ngắn hơn so với việc tạo thành Cacbit Cr, do đó sẽ khử hết C trong dung dịch trước khi Cacbit Cr có cơ hội tạo thành. Quá trình này được hiển thị qua đồ thị qua phần trên cùng cung động học CCP đối với sự tiết Cacbit Cr và tiết pha Cacbit vi hợp kim (Hình 12). Việc bổ sung Ti hay Nb sẽ được đề cập ở các phần sau đây, và hai phương pháp sẽ được so sánh.
Inox

Hình 12: Giản đồ cung TTT mô tả cách bổ sung Ti và/hoặc Nb tạo dạng cacbit tại nhiệt độ cao với thời gian ngắn, do đó ngăn chặn sự tạo thành Cacbit Cr

a. Ổn định hóa chỉ bằng Ti

Ổn định hóa bằng Ti cho họ 409 lần đầu tiên ứng dụng trong hệ thống xả Ôtô năm 1961 đối với Ford Thunderbird. Các yêu cầu ổn định hóa ban đầu đối với hàm lựong Ti là bằng 6 lần hàm lượng C và tối thiểu là 0.75%. Những thép này dường như không hóa bền đầy đủ với mức độ O, N và S bởi công nghệ luyện thép thời bấy giờ. Chỉ khi các công nghệ AOD và VOD được giới thiệu những năm 1980, các mục độ nguyên tử xen kẽ được giảm thiểu và việc bổ sung Ti cũng đem lại hiệu quả khử. Tuy nhiên, thậm chí thép không gỉ F có mức độ nguyên tử xen kẽ thấp vẫn chịu tác động khuyết tật bề mặt phải yêu cầu đánh bóng bề mặt và làm tăng chi phí sản xuất. Năm 1990, J.B. hill nghiên cứu các khuyết tật bề mặt trong thép hóa bền chỉ bằng Ti. Cho thấy rằng bổ sung hàm lượng Ti nhiều hơn độ tan tại nhiệt độ lỏng có sự tiết TiN trong quá trình đông đặc và chúng là nguyên nhân gây ra khuyết tật. Để tránh những khuyết tật này, mức độ Ti phải thấp hơn điểm giới hạn độ tan tại nhiệt độ lỏng. Tại nồng độ này, thép sẽ không được ổn định hóa hoàn toàn. Về mặt bản chất, rõ ràng là thép phải được ổn định hóa hoàn toàn bằng cả Ti và Nb hoặc là khuyết tật bề mặt sẽ xuất hiện. Yêu cầu ổn định hóa gần đây nhất đối với thép ổn định hóa đơn là %Ti = 0.08 + 8(%C+%Ni). Đã có công bố nêu rằng tổng hàm lượng Ti nên là 0.10-0.15 trên tỷ lệ hợp thức Ti:C=4 đối với ổn định hóa đơn đối với thép không gỉ F. Giới hạn thành phần hóa học chuẩn ASTM đối với các kiểu ổn định hóa khác nhau đối với thép không gỉ 409 được cho ở bảng 1.

Inox

Bảng 1: Chuẩn ASTM đối với ổn định hóa của thép không gỉ F

b. Ổn định hóa kép bằng Ti và Nb

Chất lượng bề mặt khi có ánh sáng trong thép không gỉ ổn định hóa chỉ bằng Ti,ổn định hóa kép bằng Ti và Nb đã được phát triển. Mặc dù Nb đắt hơn rất nhiều so với tổng lượng tuơng đối của Ti, tổng chi phí sản xuất vẫn rẻ hơn do giảm chi phí mài bề mặt (hình 13). Bổ sung Ti cộng với Nb cũng cho thấy làm tăng khả năng chống chịu ăn mòn và làm tăng biến dạng dẻo. Các yêu cầu hiện tại đối với ổn định hóa kép là bổ sung Ti và Nb như thế sao cho hàm lượng thỏa mãn phương trình (Ti+Nb) = 0.08 + 8 (C + N).

Photobucket

Hình 13: Chi phí sản xuất bổ sung Nb tăng thêm có thể dịch bằng giảm chi phí mài bề mặt

c. Ảnh hưởng của Nb trong thép

Ngoài ảnh hưởng ổn định hóa, lượng nhỏ Nb trong thép được biết đến là nó có ảnh hưởng cả đến vi cấu trúc và cơ tính.Nb sẽ làm tăng độ bền, làm phát triển textua tốt, cải thiện chất lượng bề mặt, và làm tăng khả năng biến dạng dẻo. Lợi ích lớn nhất của Nb là triệt khả năng hồi phục, tái kết tinh và lớn hạt trong thép. Ảnh hưởng này của Nb xuất hiện cả trong dung dịch rắn và pha tiết ra. Bàn luận về Nb trong thép được nghiên cứu sâu trong bài review của A. J. DeArdo .

Hóa bền tiết pha 

Trong thép không gỉ 409, hóa bề tiết pha không đóng vai trò đáng kể đến tính chất của sản phẩm cuối cùng. Tuy nhiên, khi tiết pha đầu tiên xảy ra trong quá trình làm nguội liên tục, các pha tiết pha tạm thời này có kích thước hạt đủ nhỏ và tỷ số thể tích lớn dẫn đên sự gia tăng nhận thấy trong độ bền thép. Điều này được sử dụng để kiểm tra biến dạng dẻo khi làm nguội liên tục để phát hiện nhiệt độ bắt đầu tiết pha. Vì lý do này, cơ bản về tiết pha sẽ được thảo luận ở đây.

Hóa bền tiết pha khởi nguồn từ nguyên gốc của nó nghĩa là từ khả năng tiết pha để ngăn chặn chuyển động của lệch. Có hai cách để lệch di chuyển qua hạt, có chế cắt Fridel hay cơ chế vòng Orowan-Ashby. Khi hạt Cacbit tạo thành trong thép, chúng thường là các hạt không biến dạng được do chúng cứng hơn pha nền F. Do đó, lệch phải tuân theo có chế vòng như ở hình 19 để vượt qua các hạt. Cố gắng để tuyên đoán ứng suất trượt cần thiết để vượt qua hạt, đã có nhiều biến thể so với phương trình gốc đề xuất bởi Orowan năm 1954 như phương trình 2.7 sau đây.

Inox

Phương trình 2.7

trong đó r là bankiinnhhs hạt và fv là tỷ phần thể tích hạt. Dẫn xuất của phương trình 2.7 được tóm tắt trong nhiều sách giáo khoa. Ứng suất trượt yêu cầu để di chuyển lệch qua các hạt được tính toán bằng giả thiết trường phân bố ngẫu nhiên, cứng, hạt không biến dạng được. Rõ ràng từ phuơng trình này hóa bền lớn nhất sẽ xảy ra khi có sự phân bố đều các hạt nhỏ.

Trong quá trình tiết pha, cả r và fv, sẽ tăng cho đến khi tất cả hàm lượng C đã tiết hết. Do vậy, quá trình hóa bền sẽ tăng lên cho đến khi kết thúc tiết pha. Sau khi tất cả C được khử khỏi dung dịch, các pha tiết lớn hơn sẽ có xu hướng phát triển tại các điểm sử dụng nhiều các hạt tiết pha nhỏ hơn. Các pha tiết pha lớn hơn sẽ trở nên thô đại và các pha tiết nhỏ hơn sẽ bị phân hủy, tổng lượng hóa bền sẽ giảm cho đến khi hiệu ứng của hạt không đáng kể.

Inox

Hình 19: Giản đồ chi chuyển của lệch qua hạt không biến dạng bằng cơ chế vòng Orowan

 Biên soạn và giới thiệu bởi Nguyễn Hoàng Việt.
luyệnkim.net

Các bài viết liên quan :

Designed by Capsun   ||   Loaded : 48 queries. 0.443 seconds.
Cua inox cong inox, cong dien inox, cong xep inox, lan can inox, , thung rac inox, ban ghe inox, moc inox,khay inox,giuong y te inox,tu hap comsan beplo chienlo nhunglo nuong banhtu cap dongkho dongtu matmay lam damay xay thitmay cat thitmay tronnoi hoibon thuc pham, bon rua taybon tiep phamban anxe dayMua bán miền Đông Phần mềm kế toán Mua Bán Nghệ An Download tài liệu DAY NAU MON AN THE GIOI